Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Năm Nhâm Dần – tìm hiểu về các danh nhân Việt Nam tuổi Dần

Ngày đăng: 8:57 | 12/01 Lượt xem: 191

Sắp đón Tết Nhâm Dần, trong không khí vui tươi phấn khởi của thiên nhiên đất trời vào Xuân, con người có dịp nhắc nhau những chuyện xưa tích cũ, vừa “ôn cố tri tân” vừa có dịp thể hiện lòng biết ơn tiền nhân, những người đã cống hiến trọn đời mình cho đất nước.

 Trong lịch sử dân tộc ta, thật trùng hợp ngẫu nhiên, đã xuất hiện những nhân tài sinh năm Dần; có người đấu tranh bảo vệ đất nước, có người là nhà bác học, nhà sử học nổi tiếng … Nhân dịp năm Dần sắp đến, bài viết này xin được kể về các bậc tiền nhân tuổi Dần đã có nhiều đóng góp cho dân tộc Việt Nam.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 - năm Canh Dần (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người sinh ra trong một gia đình nông dân, cha là một nhà nho yêu nước. Năm 1911, Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình.

Ngày 3/2/1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Quốc hội khóa I – 1946 đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1951, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ 1954; và sau đó lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ; tạo tiền đề cho giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo có nhiều tác phẩm nổi tiếng, như: Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập, Nhật ký trong tù... Người mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội, thọ 79 tuổi.

2. Trần Thái Tông (1218 - 1277)

Trần Thái Tông sinh năm Mậu Dần - 1218, là vị vua đầu tiên của nhà Trần, tên thật là Trần Bồ, sau đổi thành Trần Cảnh. Ông còn là nhà nghiên cứu Phật học, nhà thơ. Quê quán Trần Thái Tông ở phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông làm vua từ lúc 7 tuổi (năm 1225), ở ngôi 32 năm; làm Thái Thượng hoàng 19 năm, trước khi truyền ngôi cho con là Thái tử Trần Hoảng (sau này là Vua Trần Thánh Tông).

Thời gian tại vị, ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt chống lại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông năm 1258. Với thắng lợi vẻ vang lưu truyền sử sách, vua Trần Thái Tông trở thành một vị minh quân. Ông còn được sử sách Phật giáo tôn xưng như bậc thiền sư. Ông mất năm 1277, thọ 59 tuổi, để lại cho đời sau một số tác phẩm như: Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam, Lục thời sám hối khoa nghi...

3. Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 - 1291)

Tuệ Trung Thượng Sĩ sinh năm Canh Dần -1230, tước hiệu Hưng Ninh Vương , quê ở Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định, tên thật là Trần Tung (hay Trần Quốc Tung). Ông là con trưởng của An Sinh vương Trần Liễu, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông. Ông còn là một thiền sư; là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Ông trực tiếp tham gia kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 (1285) và lần 3 (1287-1288). Tháng 6/1285, ông cùng Hưng Đạo Vương đem hơn hai vạn quân giao chiến với tướng Nguyên và đuổi Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt. Kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết độ sứ, cai quản phủ Thái Bình. Nhưng không lâu sau ông xin lui về ấp Tịnh Bang, nay thuộc ngoại thành Hải Phòng lập Dưỡng Chân trang để theo đuổi nghiệp thiền và để lại nhiều áng thơ, bài kệ nổi tiếng. Ông mất năm 1291, thọ 61 tuổi.

4. Lê Văn Hưu (1230 - 1322)

Lê Văn Hưu sinh năm Canh Dần - 1230, tại làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa); là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh. Khoa thi Đình năm 1247, ông mới 17 tuổi đã thi đỗ Bảng Nhãn. Ông được vua giao giữ các chức vụ quan trọng: Kiểm pháp quan, trông coi việc Hình luật, rồi  Binh bộ Thượng thư, sau được phong chức Hàn lâm học sĩ, kiêm Giám tu quốc sử.

Theo lệnh nhà vua, năm 1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn “Đại Việt Sử ký”, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta ghi lại những việc cốt yếu trong thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ thời Triệu Đà năm 136 TCN đến thời Lý Chiêu Hoàng năm 1225, tất cả gồm 30 quyển và được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen. Tiếc là bộ “Đại Việt sử ký” của ông nay đã bị thất lạc. Có thế khẳng định: Lê Văn Hưu là nhà sử học đầu tiên của nước ta và người đầu tiên đặt nền móng cho bộ sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” hiện đang lưu truyền. Ông mất năm 1322, thọ 92 tuổi và được an táng tại quê nhà ở Thanh Hóa.

5. Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803)

Ngô Thì Nhậm (còn gọi là Ngô Thời Nhiệm), tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, sinh năm Bính Dần -1746, quê ở Thanh Oai, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội); là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê - Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm xuất thân từ gia đình vọng tộc Bắc Hà, cùng với cha là Ngô Thì Sĩ nổi tiếng văn chương trong thiên hạ lúc bấy giờ. Ông thi đỗ Giải nguyên năm 1768, Tiến sĩ Tam giáp năm 1775 và được bổ nhiệm chức quan Bộ Hộ dưới triều Lê -Trịnh.

Ngô Thì Nhậm là người thức thời. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "Cầu hiền" tìm kiếm quan lại triều cũ ra giúp sức, Ngô Thì Nhậm cùng nhiều danh sĩ Bắc Hà đã đầu quân cho Tây Sơn. Ông được phong Tả thị lang bộ Lại, sau thăng làm Thượng thư bộ Lại. Cuối năm Mậu Thân 1788, do Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp, Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên đại thắng quân Thanh của Tây Sơn. Năm 1790, vua Quang Trung mất, ông lui về nghiên cứu Phật học. Đến khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, ông và một số viên quan triều Tây Sơn bị trả thù đến chết năm 1803.

6. Phan Huy Chú (1782 - 1865)

Phan Huy Chú sinh năm Nhâm Dần - 1782, tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong, là nhà thơ, nhà bác học thế kỷ XIX. Ông sinh tại làng Thụy Khê, Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông là con của Phan Huy Ích, nổi tiếng hay chữ từ nhỏ, thi đỗ Tú tài năm 1821. Vua Minh Mạng biết tiếng, triệu ông vào kinh làm Biên tu ở Viện Hàn lâm, rồi lên đến chức Tư vụ Bộ Công. Năm 1824, ông được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Năm 1828, làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, Hiệp trấn Quảng Nam. Năm 1830, lại giữ chức Phó sứ sang nhà Thanh, trở về bị khiển trách vì tội lạm dụng quyền hành.

Đời quan trường của Phan Huy Chú lúc thăng, lúc trầm nên sinh chán nản, ông từ quan về làng dạy học, viết sách. Những bộ sách nổi tiếng của ông đến nay vẫn rất có giá trị nghiên cứu về lịch sử, địa lý, văn hóa, đối ngoại là bộ Lịch triều Hiến chương (biên soạn trong 10 năm gồm 49 quyển, được coi là bộ Bách khoa toàn thư đầu tiên ở nước ta) và các bộ Hoàng Việt dư địa chí, Hoa thiều ngâm lục, Hoa trình tục ngâm… Phan Huy Chú được xem là nhà bác học thế kỷ XIX của Việt Nam. Ông mất năm 1840.

7. Nguyễn Xuân Ôn (1830 - 1889)

Nguyễn Xuân Ôn sinh năm Canh Dần -1830, hiệu Ngọc Đường, là nhà yêu nước, nhà thơ, quê ở xã Lương Điền, Đông Thành, nay thuộc tỉnh Nghệ An. Ông thi đỗ Cử nhân năm 1867, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1871. Ông được cử làm Tri phủ Quảng Ninh, thuộc Quảng Bình, sau làm Đốc học tỉnh Bình Định, rồi về triều giữ chức Ngự sử, có lúc làm Biện lí bộ Hình.

Ông giàu lòng yêu nước, tính cương trực khảng khái, khi làm quan thường chỉ trích quan lại tham nhũng và kiên quyết xin triều đình hết sức lo chống giặc Pháp xâm lược nhưng không được chấp nhận, bị cách chức. Từ năm 1883, ông về quê, chuẩn bị lực lượng, hưởng ứng chiếu Cần Vương, dựng cờ khởi nghĩa ngay tại làng, rồi mở rộng ra các huyện trong tỉnh, gây cho Pháp nhiều thiệt hại lớn. Sau này, quân Pháp tấn công bất ngờ, ông bị bắt khi đang ốm. Gần ba năm trong tù, rồi bị an trí tại Huế, ông vẫn vững khí tiết. Ông mất vào năm 1889, thọ 64 tuổi.

8. Đinh Công Tráng (1842 - 1887):

Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần - 1842 tại làng Trinh Xá, nay thuộc Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; là lãnh tụ chính của cuộc khởi nghĩa Ba Đình trong phong trào Cần Vương chống Pháp.

Khi quân Pháp tiến hành cuộc xâm chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng đã tham gia chiến đấu trong đội quân của Hoàng Tá Viêm, phối hợp với Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp, ông đã đánh bại chỉ huy Rivière của Pháp tại trận Cầu Giấy ngày 19/5/1883. Tháng 7 năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở, Quảng Trị, ban dụ Cần Vương kêu gọi kháng chiến. Tháng 2 năm 1886, Đinh Công Tráng hưởng ứng, cùng với các đồng đội của mình chọn vùng đất thuộc ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê (vì mỗi làng có một ngôi đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia, nên gọi là căn cứ Ba Đình; nay thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) làm căn cứ kháng chiến lâu dài. Từ đây, nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng trong vùng, tổ chức phục kích các đoàn xe vận tải của Pháp đi lại trên con đường Bắc-Nam; làm giặc khiếp sợ trong nhiều năm... Ngày 5/10/1887, nơi ông đóng quân bị địch đánh phá mạnh mẽ, thành lũy vỡ, ông rút về Nghệ An và hy sinh tại làng Trung Yên, thuộc Đô Lương, Nghệ An.

9. Ngô Đức Kế (1878 - 1929)

Ngô Đức Kế sinh năm Mậu Dần - 1878, tên thật là Ngô Bình Viên, hiệu Tập Xuyên; là chí sĩ yêu nước, nhà thơ, nhà báo đầu thế kỷ XX. Ông sinh ra ở làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Xuất thân từ một nhà nho yêu nước, ông đỗ Tiến sĩ năm 1901, nhưng không ra làm quan. Theo chủ trương của Phan Bội Châu, ông mở Triều Dương thương điếm ở Vinh, buôn bán hàng nội, trợ cấp kinh phí, liên kết với các chí sĩ trong phong trào Đông Du. Năm 1908, ông bị bắt và đày ra Côn Đảo 13 năm. Năm 1922, ông ra Hà Nội làm chủ bút tờ Hữu Thanh đối chọi với tờ tạp chí Nam Phong. Báo bị đóng cửa, năm 1926, ông mở Giác Quần Thư xã, xuất bản một số sách tiến bộ: Phan Tây Hồ di thảo, Đông Tây vĩ nhân… Ông là người có nhiều uy tín với thanh niên trí thức những năm 20 của thế kỷ XX. Ông qua đời vào năm 1929, khi mới 51 tuổi.

10. Lê Hồng Phong (1902 - 1942):

Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm Nhâm Dần - 1902 tại tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình nông dân lao động, có lòng yêu nước và sớm  giác ngộ cánh mạng.

Tháng 3/1935, tại Đại hội của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao, Trung Quốc, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư. Đồng chí Lê Hồng Phong là nhà hoạt động cách mạng kiên trung, tấm gương sáng cho thế hệ trẻ nước ta mãi noi theo. Tháng 01/1940, Lê Hồng Phong lại bị bắt và đưa vào giam ở Khám Lớn - Sài Gòn, bị kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo và chúng chỉ thị cho bọn chúa đảo phải tìm mọi cách hãm hại. Những trận đòn thù tàn ác, dã man làm Lê Hồng Phong kiệt sức dần, ông đã mãi mãi ra đi vào ngày 06/9/1942.

Tác giả: Nguyễn Đường

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:











Thông báo

Liên kết website

BẢN QUYỀN ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH
Địa chỉ: Đường Chu Văn An - Thị trấn Núi Thành - Núi Thành - Quảng Nam
Điện thoại: 0235… Fax: 02353.570.560
Email: nuithanh@quangnam.gov.vn
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)